Thứ Bảy, tháng 3 26, 2016

Hôm 25/10, họp mặt Quân khu Nam Đồng mình đến hơi muộn, còn đứng lớ rớ ngoài sân tìm người quen thì thấy trong hội trường vỗ tay rào rào rồi giới thiệu Trần Lập hát bài của Quân khu. 

Vội đi vào thì gặp ngay Phương Lan đang cố giơ điện thoại để quay phim, thấy mình cựu lớp trưởng liền giao ngay con dế bảo: Thông quay hộ cái, về cho Thanh Hương xem. Hội trường đông nghịt, mình ở mãi dưới, tập trung tác nghiệp,những lúc cao trào vẫn phải đứng ngay ngắn, không được vẫy tay reo hò như mọi người. Sau này xem lại Clip buổi họp mặt trên Youtube, không thấy người nhưng thấy cái điện thoại, ai hỏi vẫn tự tin chỉ chính xác chỗ mình đứng. 

Hát xong, TL xuống hội trường cùng mọi người. Mình không quen nên chỉ gật đầu chào, hỏi thăm xã giao mấy câu. Định nhờ chụp chung tấm hình làm kỷ niệm nhưng đông quá nên ngại. Nghĩ bụng, chắc còn nhiều dịp. 

Mình thích những bài hát của TL, đặc biệt là bài”Đường đến ngày vinh quang”. Dịp Robocon 2004, TL hát bài này ở sân Quần ngựa, giữa “chảo lửa” đêm chung kết, tiếng cổ vũ vang rền của mấy ngàn sinh viên không át được tiếng hát hừng hực của ca sĩ. Một lần tình cờ xem bản đồ khu Nam Đồng, thấy ai đó ghi dòng chú thích “Nhà ca sĩ TL” ở khu vực nhà 8, mới biết là TL là người QKNĐ. Có lẽ TL về đó khi mình đã chuyển đi, nhưng vẫn thấy khoái, vẫn cứ khoe khi có điều kiện. 

Trước hôm gặp mặt vừa rồi, tối 22/10, mình ngồi ở nhà bạn Minh gù cùng với nhiều anh em sau bao năm mới hội ngộ, cùng háo hức bàn bạc về buổi “đại lễ” sắp tới, uống đủ loại bia rượu và “duyệt” bài Quân khu ca “Những người con của lính” do TL sáng tác và thể hiện. Không thể tả hết độ hay của bài hát trong không khí ấy.

Ra về mình được nhận một huy hiệu Quân khu và đĩa CD bài “Những người con của lính”. Không có máy nên đêm ấy không mở để nghe lại được, nhưng lời bài hát đọc lên vẫn thiết tha từng chữ, đủ thấy tình cảm của TL với bạn bè, với mọi người 

Mở lòng mình tìm về chốn xưa
Nơi ta đã sống biết bao tháng ngày
Khoảng trời tuổi thơ nuôi bao ước mơ
Cho ta bước qua bao ngày giông bão… 

Về SG mấy bữa thì nghe tin TL ốm, rồi hôm nay biết TL đã mất. Mọi sự xảy ra quá nhanh, những ấn tượng tốt đẹp mới như ngày hôm qua. Tiếc là, sẽ không còn có dịp nào nữa. 




Đọc thêm!

Thứ Hai, tháng 2 15, 2016

Thế là Tết lên đường về năm cũ 
Những đào mai ngơ ngác rải bông tàn 
Mới hôm nào trên cành e ấp nụ 
Giờ hóa vàng hoai vọng chốn nhân gian 

 Ta tạm cất những ngày vui đầy đặn 
Nghe thời gian gõ nhịp đã nhanh dần 
Đoàn tàu ghế mải chơi cùng chúng bạn 
Đến ga này còn được mấy mươi xuân. Đọc thêm!

Thứ Hai, tháng 1 18, 2016

MÙA SƯƠNG. 
    Hôm rồi mới thử cái máy tạo ẩm Humax, loại dùng cho phòng thí nghiệm. Máy này là loại siêu âm tự động nên cũng lành, cứ việc đổ nước, bật điện, giây lát sau một làn hơi nước như khói bắt đầu phun ra. Mình để tốc độ lớn cho hơi nước tỏa ra khắp phòng. Mấy đứa nhỏ háo hức xòe tay đón luồng hơi lành lạnh, rồi chúng nó để hơi nước phả vào mặt, cho đến lúc có những chấm sương li ti bám trên mi, trên tóc.
   Những đứa trẻ phương Nam đã có chút cảm giác về một mùa sương xứ Bắc.
    Nhớ những màn sương mùa đông năm 72, giữa lúc chiến tranh ác liệt nhất, khi đó mình còn nhỏ, được sơ tán về một miền quê Vĩnh Phúc. Sáng sớm đám trẻ đưa nhau đi học, mới đầu đi chung nhưng rồi dần dần tách ra các hướng (các lớp học khi đó là những nhà hầm lớn, được chia rải rác trên cánh đồng để tránh bom đạn), tới lúc chỉ còn một mình với màn sương mù mịt. Sương sớm mùa đông đặc như sữa, cây cối cách mươi mét chỉ thấy mờ mờ. Mình cứ đi miết trên con đường đất rất dài, vừa sợ, vừa lạnh, đi mãi tới khi mừng rỡ nghe tiếng đám bạn cùng lớp lao xao trong màn sương, dù vẫn chưa nhìn thấy chúng nó.
    Ký ức tuổi nhỏ bền lâu, mình còn nhớ cả cái mùi sương ngàn ngạt.
    Tới hồi học đại học dưới chân núi Tam Đảo, vùng này quanh năm lãng đãng sương. Những buổi tối cuối thu đầu đông sương giăng mờ đất, nhiều lần mình từ Hà Nội lên muộn, đạp xe vào trường giữa một biển sương lạnh giá, vừa đi vừa dò đường. Những đêm có trăng, không gian nhạt nhòa một màu sương trắng, bạn bè hẹn hò, háo hức như đang chơi trốn tìm giữa bao la trời đất.
 “ Ngọn gió nào thao thức lúc buông đêm
 Biết hơi giá có còn vương trên áo
 Em còn nhớ màn sương mờ huyền ảo
 Nhớ vì sao hay mọc cuối chân trời” 
   Sài Gòn đôi khi cũng có sương, nhưng thường chỉ một chút thoảng qua như bụi, không biết có kịp làm ai đó bâng khuâng, mơ về một màn sương cổ tích: “Hôm qua em đi Chùa Hương. Hoa cỏ còn mờ hơi sương…”
   Nhớ mùa sương, cũng là nhớ về một thời gian khổ. Trong những ngày đông giá, hơi sương ẩm ướt đưa cái lạnh ngấm vào cơ thể. Những nẻo đường mờ sương dù đẹp, những anh hùng ra đi dù “sá gì sương gió”, nhưng rét thì không phải chuyện đùa. Những hạt sương tưởng như vô hình cứ từ từ bám vào tóc tai, quần áo, đến lúc đó thì dẫu anh hùng hay siêu nhân cũng cứ tự động mà run như cầy sấy (cầy ở đây là con cún). Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại nói là “rét mướt”, mướt là ướt, rét mướt là rét + ướt = siêu rét. Trong các loại sương có loại sương muối, hay sương giá, xuất hiện khi trời quá lạnh, độ ẩm quá cao, sương hóa băng, bám như muối trên cây cỏ. Sương muối là ám ảnh của mùa màng và sức khỏe.
   Bây giờ thì mình “tạm biệt mùa đông, tạm biệt mùa sương” đã hơn hai chục năm. Những kỷ niệm cũng mờ mờ sương khói. Đôi lần trở ra Bắc vào mùa lạnh nhưng toàn ở trong nhà, ngồi ô tô, không có nhiều dịp để lang thang tìm lại cảm giác ngày xưa. Mà hình như không chỉ những người ở xa, mà bà con miền Bắc bây giờ cũng thế. Cửa kính hai ba lớp, rồi máy sưởi, máy hút ẩm…đã dần đưa rét mướt khổ sở ra khỏi phố phường, về thời xa vắng. Màn sương mùa đông tự nhiên lại được chờ mong, cứ như người đẹp.
 “Chiều đông sương giăng phố vắng…” 

 Mr Ẩm.
Đọc thêm!
ẨM IC 

  Thị trường bây giờ nhiều loại máy móc hay thật, ví dụ như cái máy hút ẩm. Nó đã góp phần giải quyết một số chuyện trong xã hội. 
  Cách nay ngót hai chục năm, trong câu chuyện của giới trẻ thường có câu “ẩm IC”. Chỉ cần nói thằng nọ, con kia bị “ẩm IC” là thiên hạ đã hiểu được vấn đề.
   Gốc gác sâu xa của chữ này xuất phát từ lĩnh vực kỹ thuật. Thời đó mới mở cửa, nước mình còn nghèo, đồ điện máy trên thị trường đa số là hàng “nghĩa địa”. Từ TV, đầu máy, cát-sét tới tủ lạnh, máy giặt, đồng hồ điện tử…hầu hết là “Made in Bãi rác” - được thu gom từ các kho phế thải xứ Đài Loan, Nhật Bổn. Về VN, chúng được mông móa, tân trang, chỉnh chọt sơ sơ rồi đưa ngay vào danh sách hoa hậu. Nhà nào gom góp được vài chỉ vàng để rước về một em TV màu chuyển hệ là danh tiếng nổi như cồn. Nếu còn kèm thêm một ông đầu máy Video nội địa nữa thì thôi rồi, chắc chắn nhà đó là đại gia, không cần bàn cãi.
    Khỏi phải kể, các bạn cũng biết là các sản phẩm công nghệ này luôn được o bế, lau chùi sạch bóng và đặt trong các loại tủ chuyên dụng cầu kỳ, kín mít, có khóa chắc chắn (Các loại tủ này hiện nay đã tuyệt chủng). Vậy mà chúng cứ chập chờn. Cái TV nhà mình, tiếng là TV màu nhưng khi xem bóng đá quốc tế vẫn chịu, không phân biệt được hai đội. Cầu thủ chạy tới giữa sân rồi mà cái quần đùi mầu đỏ còn lơ lửng ở vòng cấm địa!
   Đưa đi sửa thì hầu hết các trường hợp được thợ phán: “ẩm IC”. IC là cái mạch tích hợp, là đầu não của các các thiết bị điện tử. Hồi đó IC mới xuất hiện, chúng được sản xuất ở các nước ôn đới khô ráo nên khi đưa về VN chịu khí hậu ẩm ướt là giở chứng. Máy móc bị “Ẩm IC” rất khó chịu, hoạt động ngẫu hứng, dở dở ương ương, lúc được lúc mất, trời nắng thì chạy ro ro, trời mưa thì tịt. Bắt đền thì người bán cũng không xong vì nó đâu có hỏng hẳn, cũng chẳng phải lỗi của ai, cuối cùng đành hòa cả làng, chung quy là tại “cái nước mình nó ẩm”.
   Không hiểu cái bệnh “ẩm IC” có lây truyền từ máy sang người? hay cũng tại “cái nước mình nó ẩm” mà trong đời sống thời đó cũng xuất hiện nhiều nhân vật hơi khác thường, hành vi ẩm ương rất khó kiểm soát, rõ ràng đầu óc có vấn đề nhưng không thể giải thích. Thiên hạ bao quát những người này là “chập mạch”, “chập cheng” hay “ẩm IC” (Đôi khi nói chệch đi là hội chứng AIC). Bản thân chỗ mình cũng có một ông em đã yêu cầu cơ quan phải họp để biểu quyết xem cậu ta có “ẩm IC” hay không? tất nhiên là 100% cơ quan đồng thanh biểu quyết là IC cậu ta không hề ẩm mà rất khô, thậm chí còn “âm ấm”. Được vậy cậu em mới yên tâm (dù “ẩm IC” và “ấm đầu” cũng chẳng khác nhau là mấy).
   Bây giờ nghĩ lại mới thấy ngôn ngữ dân gian quả là thâm thúy, về khía cạnh nào đó, con người cũng như cỗ máy, cũng chịu ảnh hưởng của thời tiết. Trời mà mưa gió ẩm ướt thì ông người thế nào chẳng đau ốm, mệt mỏi, IC của ông người thế nào chẳng hơi âm ẩm, từ đó sinh ra khó chịu, thất thường, “sớm nắng chiều mưa”, để lâu là thành tật.
    Xã hội ngày càng tiến bộ, những hàng hóa “nghĩa địa” ngày xưa đã không còn. Môi trường sống của con người cũng được cải thiện. “Cái nước mình thì nó vẫn ẩm”, nhưng với những thiết bị hiện đại, độ ẩm không còn là bất trị. IC của máy móc và IC của người ta cũng mạnh khỏe hơn, thành ngữ “ẩm IC” vì thế mà không phổ biến nữa. Tuy nhiên hiện tượng “ẩm IC” cả về nghĩa đen và nghĩa bóng, thì đây đó vẫn còn, nếu ta không quan tâm đến nó. Vì vậy, xin kể lại chuyện một thời chưa xa, để các bạn trẻ biết “ẩm IC” là gì.

 Mr Ẩm.
Đọc thêm!

Thứ Hai, tháng 11 30, 2015

Năm tàn ngày tháng ruổi mau
Mưa nhanh gió vội ai đâu đợi mình
Thôi tìm lên chỗ yên bình
Chơi cùng vạt nắng rung rinh cuối chiều.

Đọc thêm!
     Năm 1982 Nhà nước bắt đầu lấy ngày “Hiến chương các Nhà giáo” 20/11 là ngày Nhà giáo Việt Nam. Các nơi đều tổ chức long trọng chào mừng ngày NGVN lần thứ nhất. 
    Lễ của Trường SQKT tổ chức ở phòng đầu dãy thư viện cũ, thẳng cổng chính vào. Dãy nhà này giờ đã phá làm vườn hoa. Lúc đó mình mới nhập trường được hơn tháng, là học viên nhưng cũng được mời dự lễ để đọc thơ. Trước đó, trung úy Thát, đại phó chính trị đã gọi mình lên bảo phải sáng tác gấp một bài thơ nhân dịp 20/11, muốn làm thế nào thì làm nhưng yêu cầu là “phải hay hơn các C (đại đội) khác”. 
    Đây là một yêu cầu thực sự khó vì khóa I - SQKT có nhiều nhân tài, như ở bên lớp xe tăng có bạn Lương Ngọc An, bây giờ là nhà thơ ở Báo Văn nghệ . Ngay trong mấy lớp xung quanh mà mình chưa quen hết, đã có nhiều cây văn thơ, sinh hoạt văn nghệ là giành nhau lên sân khấu. Chưa kể các thầy, trường “Vin” (Vin-hem Pich) ngày đó nhiều thầy mới đi Tây về, văn hóa thể thao đều đẳng cấp, có lần mình nghe lỏm mấy thầy hẹn nhau tối nay đi đấu thơ với “bọn Văn nghệ Quân đội”. 
    Thời gian lại gấp, cũng chưa biết phải ca ngợi các thầy bộ đội thế nào cho phải, các thầy cứ ke răm rắp, học viên vào lớp thở to còn không dám, chả nhẽ lại “bố của em ở trường, là thầy giáo mến thương”? 
   Sau rồi cũng nghĩ ra cách là phải “tích hợp” cảm xúc, ca ngợi thầy cô ngày xưa rồi “lồng ghép” các thầy, cô bộ đội vào để làm “mềm hóa” vấn đề. 
    Bài thơ cũng dài, chỉ nhớ đoạn đầu: 
 “ Rời mái trường lại tới mái trường 
 Ở đâu cũng ấm áp tình thương 
 Ở đâu cũng những người thầy giáo
 Dìu dắt em qua những chặng đường

 Nhớ năm tháng ấy tuổi học trò
 Có bè có bạn có thầy cô
 Những lời tha thiết còn nhớ mãi
 Theo bước em đi dựng cơ đồ…” 

   Sau đó là đoạn liên tưởng về các thầy cô hiện tại. Viết kiểu “liên tưởng” thế cũng dễ, mượn cái này khen cái kia, không sợ sai sót. Bản thân mình thấy bài thơ cũng sáo, nhưng nộp lên thấy đại phó gật gù, chỉ chữa vài chỗ, rồi bảo về tập.
    Hội trường hôm lễ 20/11 kê mấy dãy bàn dài, theo kiểu đám cưới thời bao cấp, trên bàn cũng chỉ có hoa, trà nước, bánh kẹo. Đại biểu ngồi đông chật, mình được bố trí ngồi đầu dãy để tiện đi lên sân khấu. Chỗ ngồi ngay gần các Thủ trưởng nên mình hoảng, không ăn uống, cũng chẳng nhớ ai nói gì, chỉ nhớ là sau khi ban tổ chức giới thiệu thì lên trước micro đọc bài thơ.
    Kết quả là được vỗ tay nhiệt liệt và nhiều thầy cô nhớ mặt, về sau còn được tái bản trên báo tường và được cái giấy khen. Còn ngay lúc đó thì mình cũng không kịp theo dõi các tiết mục khác xem phần của mình ở thứ hạng nào.
   Thời gian thấm thoắt, các thầy cô ngày ấy đều đã nghỉ, nhiều người đã mất. Bản thân lứa bọn mình cũng đã đến chặng cuối của hành trình đưa đò. Nhiều lễ 20/11 đã qua nhưng mình vẫn có một sự tự hào nho nhỏ là được tham dự ngày NGVN đầu tiên, cách nay đã 33 năm.
Đọc thêm!

Thứ Bảy, tháng 9 19, 2015

Tặng em một tấm bản đồ
Xanh xanh màu lụt ai tô rối bời
Mỗi khi đi học đi chơi
Mua nhà mua đất em coi mà tường
Sài gòn giờ ngập bốn phương
Bởi nhiều các bác ễnh ương hứa lèo
Trăm năm sông chẳng nên đèo
Gò vấp cao ráo em theo anh về…

Đọc thêm!

Thứ Tư, tháng 9 02, 2015

  Không thể tin được là gần ba năm rồi mình chưa ra Hà nội. Thường thì năm nào cũng có.

   Vậy mà bẵng đi từ cuối 2012 đến giờ chẳng có chuyến nào. Lu bu chuyện nọ chuyện kia, hôm nay mới chợt nhớ ra. Kể cũng hơi lâu. 

  Ba năm trước HN chưa có cầu Nhật tân, chưa có xa lộ trên cao, chưa có nhà Quốc hội mới, đường Nguyễn Chí Thanh vẫn còn cây và quận Từ liêm thì chưa tách…Kiểu này ít nữa ra HN có khi phải hỏi thăm đường.

   HN cứ lạ dần đi. Đấy là chút buồn của những người ít về HN như mình.

   Ra HN, ngoài gặp gỡ người thân, thì thú vui của mình là kiếm cái xe máy, chờ đến 4-5 giờ chiều, đúng lúc tan tầm thì phi ra đường, chọn những con đường đông nhất, vòng qua các nút tắc mạn Giảng võ, La thành, về khu Nam đồng, sang Kim liên, Ngã tư Sở…Thong thả chen chúc trong dòng người hối hả để có một cảm giác thân thuộc. 

   Mấy năm trước còn chưa có “Phây” nên đa số bạn bè cũ, qua bộn bề thời gian, cũng rất mơ hồ, chỉ nghe nói làm ở đó, nhà ở đó…mà chưa có dịp tìm lại. Cho nên những buổi chiều lang thang qua những con đường ngày xưa đôi khi còn như một cuộc gặp gỡ tượng trưng. Có thể bạn mình đang đi bên cạnh? Có khi vừa nhìn thấy nhau? Chẳng biết có đúng hay không, nhưng điều đó làm mình vui. 

   Cái thú nữa là ngồi hàng nước nghe bà con HN tán chuyện và chém gió. Mình được cái tốt là ra HN không pha tiếng miền Nam, tô-ly-bát-chén “dõ dàng” nên vào hàng quán không bị chém tiền, nhưng chém gió thì vẫn bị. Lúc đầu hơi choáng nhưng sau thấy quen. Có lần đi xe ôm trên đường Hoàng Quốc Việt, lúc qua Học viện Chính trị Quốc gia, đồng chí xe ôm chắc thấy mình ở xa đến, nên chỉ vào Học viện nói: ”Tớ dạy ở trong kia, rảnh rỗi chạy xe thêm cho vui !?”, mình sợ nghe nhầm nên hỏi lại: “Anh dạy môn gì ?”. “Môn Kinh tế chính trị” - đồng chí xe ôm đáp rành mạch rồi giảng giải cho mình về tình hình kinh tế trong và ngoài nước. Về sau mình còn qua lại đấy nhiều, thấy đồng chí vẫn thường trực trên con “Rem lùn” láng coóng chờ bắt khách, chẳng dạy dỗ gì. Đồng chí cũng nhận ra mình, nhưng mặt tỉnh bơ. Nói chung là trên vỉa hè HN, làm chính trị, làm xe ôm, hay làm MC truyền hình… cũng không hơn kém nhau mấy, xét về trình chém gió. Lâu không được ngồi chè chén, đã thấy người ngu ngu.

   Còn nhiều thú vui khác, như ẩm thực chẳng hạn. SG bây giờ đầy hàng ăn HN, có tàu bay chở các thứ nguyên liệu vào, nhưng vẫn không giống. Các chuyên gia bảo rằng, hãn còn thiếu nhiều lắm, thiếu chút nước sông Hồng, thiếu chút gió Hồ Tây, thiếu tiếng bỗ bã của mợ chủ, thiếu cái nết đủng đỉnh của khách…Ý các bác ấy là cứ phải bê được cả HN vào thì mới giống.

   Nhiều niềm vui như thế. Mùa thu đã về. Bà con, bạn bè lâu không gặp. Rồi còn chuẩn bị họp khu, họp lớp…vậy mà gần ba năm mình chưa ra HN. Quá đắng lòng, thật không thể tin được.

Đọc thêm!

Thứ Sáu, tháng 5 22, 2015

Mười năm về lại Cần thơ 
Nhịp cầu đã nối hai bờ Hậu giang 
Dòng sông còn có đầy gang 
Chợt thương bầy sáo sang ngang cuối trời 
Chợt thương đâu đó một người…



Đọc thêm!

Thứ Tư, tháng 4 22, 2015

Tôi sinh vào tháng chờ mưa
Giữa năm bom đạn nhặt thưa cuối trời
Tuổi thơ khi khóc khi cười
Lớn lên cũng thích rong chơi,bạn bè
Mỗi khi xuân mãn hạ về
Thấy mình như thể con ve mới vừa
Ngày này sao giống ngày xưa
Năm mươi năm lẻ vẫn chưa chuyển mùa ?



Đọc thêm!

Thứ Hai, tháng 3 16, 2015

Dùng dằng chẳng hết tháng Giêng
Để xuân còn muộn để duyên còn già
Để sương khói cứ la đà
Để người thì đợi để ta thì chờ…


Đọc thêm!

Thứ Năm, tháng 2 26, 2015

Thoáng qua mấy ngày tết
Ngựa đã phi tít mờ
Dê vẫn còn đủng đỉnh
Lúc lắc chùm râu thưa

Người trở lên xóm trọ
Mai đào về góc sân
Lại sống đời cây cỏ
Thao thức chờ đến xuân

Hàng quán dần đông đúc
Ngọ Mùi cũng vào nồi
Mang niềm vui trần tục
Giáp Ất là thế thôi…

(Thơ ngày hoá vàng). 

Đọc thêm!

Thứ Sáu, tháng 2 13, 2015

PHÁO HOA GÒ VẤP 
  
    Vậy là sau hai năm tạm vắng, tết này lại có pháo hoa ở Gò vấp. Oai hơn nữa là bắn tầm cao. Cả thành phố chỉ có hai điểm pháo hoa tầm cao là quận Nhất và Gò vấp. Nhưng nếu tính kỹ thì pháo hoa Gò vấp còn cao hơn quận Nhất, vì nó được đặt trên…Gò. (theo Dư địa chí thì Gò Vấp cao 11 m trên mực nước biển).

   Nói túm lại là tết này, pháo hoa Gò vấp cao nhất thành phố.

   Hồi đầu, nghe nói có pháo hoa ở ngay cạnh nhà, mình cũng còn ngờ ngợ, phải chạy xuống tận Công viên Văn hóa, thấy bãi bắn, có lính gác đàng hoàng, mới tin.
   
     Khỏi phải nói giao thừa năm đó dân GV sướng thế nào, thêm cả bà con vùng ven quận 12, Thủ đức. Tụi trẻ thì kéo đến xem tận nơi, còn các cụ thì ung dung mang ghế ngựa ra sân ngồi coi “pháo bông” cháy rực trời . Có điều là pháo nổ lớn quá, đùng đùng ngay trên đầu, nhiều bà con bất ngờ, suýt té. Người ta bảo “dân Gò vấp vui té ghế” là vì đó. Mấy con đường nhỏ ngày thường vé số còn chê, nay cũng bày đặt kẹt xe. Lại nghe nói những nhà tranh thủ mở cổng “coi xe pháo bông” còn hết chỗ, người ta giành nhau đẩy xe vào cho mình chém, y như trên…quận Nhất.
  
    Sau đó thì mọi sự lại bình thường, nhưng xem ra 15 phút pháo bông cũng có tác dụng nhất định. Ngoài việc giúp cho dân xứ Gò mở mặt trong ba ngày tết, nó còn tạo ra những giá trị vô hình theo hướng tích cực. Rao vặt nhà đất có thêm yếu tố “gần khu pháo bông”, mấy khu quy hoạch treo hơn hai chục năm, tưởng đã chết tốt, nay lại hơi động đậy. Mấy phát pháo nổ đã động đến “địa mạch”? Có khi chỉ do bà con mình phấn khởi, “bay trong đêm pháo hoa” mà tự sướng, nhưng cũng có khi là thật. Biết đâu.

    Thế rồi nền kinh tế khó khăn, hai năm gần đây, không có điểm pháo hoa, bà con GV lại phải kéo nhau đi xem nhờ trên quận Nhất. Tết nhất xứ Gò đâm kém khí thế, bầu trời đêm ba mươi đã tối lại vô cùng trống trải.
  
    Cho đến năm nay lại có pháo hoa, dân GV đã vui trở lại, lại được ở nhà coi pháo bông “nhà mình”. Pháo nhà mình vừa đẹp, vừa cao nhất thành phố, mà nổ cũng to nhất. Chúc mừng bà con.

Đọc thêm!

Thứ Tư, tháng 2 04, 2015

Chủ đề: Ôn nghèo kể khổ…cho vui 

 CHUYỆN SÁCH VÀ BÈ BẠN. 

  Thời đại thông tin số bùng nổ, sách giấy truyền thống sẽ chết. Nhưng đến lúc nó chết hẳn cũng còn lâu, ít nhất là phải sau khi lứa mọt già chúng tôi đã rụng hết răng vì “đục sách”.

 Tôi “đục sách” từ khi chưa biết chữ. Nhà có mấy cuốn truyện tranh cứ phải vác đi nhờ người ta đọc hộ, nghe mãi đâm thuộc nên ai sốt ruột đọc lướt hoặc sai là tôi biết ngay. Rồi tôi lại “đọc” ngược cho đám trẻ con, cả mấy đứa hơn tuổi.

 Không riêng tôi mà hầu hết bọn trẻ thời ấy đều mê sách báo, đó là kênh thông tin giải trí chủ yếu trong điều kiện TV chưa có, phim ảnh thì thi thoảng, đài đóm cũng hạn chế. Còn internet thì chưa hề được khái niệm, kể cả trong chuyện viễn tưởng.

 Mà lúc đó sách báo đâu phải sẵn. Chúng đến tay bọn tôi bằng nhiều con đường khác nhau, số mua, số mượn, số được thưởng, số “cầm nhầm” của người ta, số chẳng nhớ từ đâu…

 Tôi thuộc loại chịu khó mua sách. Biết gần hết những hiệu sách trên các phố Hà nội bấy giờ. Từ hiệu sách to nhất mang tên “Hà nội - Huế - Sài gòn” ngay góc Ngô Quyền - Tràng tiền tới các hiệu sách xung quanh Bờ Hồ và dọc theo các tuyến tàu điện ra năm cửa ô, từ các hiệu sách quốc doanh bạt ngàn “sách mẫu không bán” tới những tủ sách bụi bặm sâu trong phố cổ “sách gì cũng bán” với giá “cắt cổ”.

 Sách bán theo “giá trong” thì khá bèo nhưng chỉ mua được mấy cuốn bèo bèo, còn những cuốn giá trị thì cũng giống như mỡ lá hay chân giò bên thực phẩm, rất ít xuất hiện tại quầy (mà trên chỗ trưng bày thì vưỡn có, thế mới đau!). Nhưng học tập bố mẹ và các anh chị lớn trên mặt trận gạo thịt, bọn nhóc chúng tôi cũng có nhiều cách để săn được sách hay.

 Cách thông thường nhất là kiên cường bám trụ. Kinh nghiệm cho thấy, khi có một em sách Hot nào đó được bày lên chỗ hàng mẫu thì cũng phải có một số em tương tự đang nấp dưới quầy, và việc của chúng tôi là cứ phải quanh quẩn ở đó, chờ khi em nó xuất hiện. Bản thân tôi đã từng phục một cuốn sách phổ biến khoa học ở hiệu sách Hà nội - Huế từ giữa chiều đến sẩm tối, tới khi em nó được đưa ra cho một anh chàng đẹp trai là tôi xáp tới, nhờ tình huống này mà tôi cũng nhận được cuốn sách y như của anh giai kia, kèm theo một ánh mắt “hình viên đạn” của cô hàng sách dễ thương.

 Còn một cách phục kích trí tuệ hơn. Cũng từ kinh nghiệm cho thấy, việc phát hành sách thời đó theo hệ thống phân phối từ trên xuống dưới, từ cấp thành phố đến cấp khu (quận). Vì thế, khi thấy sách mới xuất hiện hôm trước ở mấy hiệu sách trung tâm, thì ngay hôm sau chúng tôi đã có mặt sớm ở hiệu sách nhỏ hơn. Nhờ nắm vững địa bàn, chúng tôi canh thời điểm khá chuẩn, có lần còn giúp cửa hàng khiêng các kiện sách từ xích-lô vào và được ưu tiên mua trước. Cách này tôi đã áp dụng ở hiệu sách trên phố Khâm thiên, đối diện rạp Dân chủ, mua được mấy cuốn hay như “Trong vùng địch” truyện tình báo Liên xô, “Tín hiệu bình yên” truyện hình sự của Trần Hữu Tòng. Cô bán sách ở đây đã lớn tuổi, dễ tính, có sách mới về là bán luôn, hết thì thôi.

 Cũng nhờ đón lõng như thế mà tôi mua được cuốn “Phút quyết định” ở hiệu sách trên đường Thụy khuê gần bót Hàng đậu. Hiệu này gần trung tâm nhưng hơi khuất nên ít người để ý. Cuốn “phút quyết định” có đoạn nói về tên tội phạm bị công an đuổi phải tự sát trong khu Nam đồng, trước sân Nhà 1. Vụ này chúng tôi được chứng kiến.

 Ngoài việc phục kích có trọng điểm, chúng tôi cũng thường xuyên lượn quanh các hiệu sách. Đi nhiều nên thuộc cả cách sắp xếp của từng nơi, có cuốn nào mới là phát hiện được ngay. Sau này, khi đã lớn hơn một tý, chúng tôi còn chịu khó nhảy tàu hay đạp xe ra các vùng ngoại ô, nơi mật độ “mọt” thấp hơn. Sang Cầu giấy, vào Hà đông, xuống Giáp bát, Văn điển. Tại hiệu sách chỗ đầu Cầu giấy, khi đó còn là vùng ao hồ lụp xụp, có lần tôi thấy tập thơ “Lá cỏ” của Uýt-xơ-man, cuốn này đang được bình luận nhiều trên báo chí và bầy trang trọng trong tủ kính của mấy hiệu sách lớn, nên tôi chộp luôn dù khá dầy, giá tận một đồng. Nhưng tiếc thay, về đọc chẳng hiểu gì.

 Có dịp được đi xa là tôi để ý tìm hiệu sách, những hiệu sách tỉnh lẻ thường rất nghèo nàn, nhưng đôi khi cũng vớ được của hiếm lưu lạc. Gần ga Thường tín, cách HN hơn hai chục cây, trên lối rẽ vào viện Tâm thần nơi ông nội tôi công tác, có một Hiệu sách nhân dân cấp huyện khá bề thế, cứ mỗi lần qua đó là tôi kiếm được vài cuốn. Đặc sản của hiệu sách này là những cuốn sách về điện đóm như “điện tử học lý thú”, “truyền hình thật là đơn giản”…ở thành phố thì đắt như tôm tươi nhưng bà con nông dân - lúc đó còn thắp đèn dầu - thì không quan tâm lắm.

 Chịu khó săn sách như thế nhưng có nhiều cuốn chúng tôi cũng chịu, đó là những cuốn hầu như không thấy ngoài hiệu sách. Ví dụ như các bộ Tam quốc, Đông chu liệt quốc, Tây du ký của NXB Lao động, hay các cuốn truyện tình báo, trinh thám nước ngoài, các bộ sách văn học kinh điển…Những cuốn đó, nếu mê quá, chúng tôi phải bấm bụng mua ở các hàng sách tư nhân với “giá ngoài”. “Giá ngoài” thường đắt gấp đôi, gấp ba “giá trong” tùy độ hiếm.

 Tôi thường mua sách ngoài ở hàng văn phòng phẩm gần bến tàu điện Ô chợ dừa. Bà chủ quán này được chúng tôi gọi là “địa chủ” vì ăn mặc, trang điểm cầu kỳ, đi đứng đủng đỉnh như mấy mợ nhà giàu trong phim Sao tháng tám. Tuy nhiên sách chỗ này khá mềm. Cuốn truyện gián điệp “Sợi chỉ mỏng manh” bìa cứng của Liên xô đã được tôi quyết định “xuống tiền” mua ở đây sau khi đã khảo giá nhiều nơi. Mức tiền tôi xuống là ba đồng, trên giá gốc là đồng rưỡi.

 Nhưng phải nói thật là những dịp “xuống tiền” hoành tráng thế là khá hiếm. Kinh phí được bố mẹ cấp cho những lần đi chơi cũng khiêm tốn, nhiều khi chúng tôi phải chấp nhận nhịn kem và cuốc bộ từ Bờ Hồ về để dồn tiền mua sách. Hồi cấp một, tôi đã từng phải vòng về nhà xin thêm một hào để mua cuốn chuyện tranh “Diệt xe tăng Mỹ” giá hai hào rưỡi tôi vì trong túi chỉ có ba đồng xèng mệnh giá 5 xu. Cũng may là lượt quay lại mẹ tôi cho thêm tiền lộ phí, may hơn nữa là lúc quay lại cuốn đó vẫn còn. Có lần tôi hỏi xin mẹ năm đồng để mua cuốn truyện viễn tưởng “Tinh vân tiên nữ” làm mẹ tôi cũng choáng, cứ băn khoăn mãi, đi hỏi ý kiến nhiều thầy cô trong trường. Nhưng sau rồi tôi lại mượn được cuốn đó của ông anh hàng xóm. Kỷ niệm đau thương là khi cậu Đê tôi trong miền Nam ra, thương thằng cháu nên cho hẳn tờ mười đồng mới cứng (tờ tiền to nhất bấy giờ) để mua sách dần, vậy mà tôi lớ ngớ, lên tàu điện bị đám “lính mổ” móc mất.

 Kể thêm một chút trước khi kết thúc phần mua sách là khả năng thẩm sách từ xa của bọn tôi. Lý do là hồi đó chưa có các nhà sách dạng siêu thị như bây giờ. Các hiệu sách cũng được bài trí như các cửa hàng mậu dịch khác, đại khái là bên trên có tủ kính bày sách mẫu, bên dưới là quầy để sách bán, nhưng quầy cũng có kính hoặc lưới nên chúng tôi không thể sờ vào sách được, chỉ nhìn cái bìa. Nhân viên bán sách thì lại chảnh (trong thời bao cấp bất cứ ai được bán cái gì theo giá nhà nước đều có độ chảnh, độ chảnh ở hàng sách đỡ hơn nhưng vẫn có), chỉ khi vắng khách chúng tôi mới có dịp xin phép “cho chúng cháu xem nhờ cuốn nọ cuốn kia” mà cũng chỉ xem nhanh một hai cuốn thôi, còn nếu lâu hơn thì các cô sẽ không vui. Mua bán tù mù thế nên chúng tôi phải rèn luyện khả năng phán đoán nội dung và độ hay bằng các dữ liệu gián tiếp như tên sách, bìa sách, tác giả, nhà xuất bản, độ dày mỏng…cũng phải nhờ đến sự tư vấn của đám bạn và cả bản năng của loài mọt. May là sách vở hồi ấy đặt tên, vẽ bìa cũng chân phương chứ còn như bây giờ, đưa cả hình diễn viên hài lên bìa sách luật thì chúng tôi chỉ có khóc.

 Tóm lại là ở thời kỳ gian khổ ấy, ăn mặc còn thiếu thốn, nên chuyện mua sắm sách vở, người lớn cũng chỉ lo được phần nào. Để thỏa mãn nhu cầu đọc, bọn trẻ phải tự tìm đến với nhau. Những cuốn sách được cho mượn luân chuyển mới là nguồn “cơm giấy” chính của chúng tôi. Hơn thế, chúng còn là sợi dây kết nối bạn bè, là chứng tích của nhiều chuyện vui buồn thời đi học.

 Phương thức phổ biến nhất là bỏ vài cuốn vào cặp, mang đến lớp, đứa nọ mượn đứa kia rồi chuyền tay nhau. Những cuốn sách hay cứ đi lòng vòng rất lâu mới trở về với chính chủ. Nhiều lúc sốt ruột, phải truy qua cả chục đứa mới thu hồi được sách, trong tình trạng khá nhàu nhĩ.

 Tới lúc đã thân quen hoặc khi các cặp mọt bắt đúng tần số, chúng tôi rủ nhau về tận nhà để xem sách. Thường thì dân nghiện giấy dễ nhận ra nhau, nhưng cũng phải thăm dò. Chỉ có thằng Dương “ký” nhà 3C thì khác, vừa mới gặp tôi nó đã hỏi luôn “cậu có hay đọc sách không ?”. Hơi tự tin với lưng vốn hơn trăm cuốn nên tôi gật, nó lại bảo tiếp “thế bọn mình trao đổi nhé” và dẫn tôi về nhà. Kho sách của thằng Dương làm tôi suýt ngất. Nhà nó ở dãy trệt, xây nới cả phía trước phía sau nên rất dài và có nhiều buồng nhưng thằng Dương lại ở trên một cái gác xép sát mái, có thang gỗ để leo lên. Cái gác xép khá rộng nhưng chỉ còn chừa một khoảng hẹp bằng cái chiếu con, còn xung quanh là các giá sách. Hay hơn nữa là cái gác xép của nó hoàn toàn biệt lập, có thể ở trên đó đọc cả buổi, cũng không ngại tốn điện bật đèn vì chủ nhân “thư gác” đã trổ một ô cửa trên mái nhà, có lắp kính nên rất sáng. Nhà thằng Dương cũng toàn người lớn, rất dễ chịu.

 Sách của thằng Dương có đủ loại và toàn thuộc loại chất. Ngoài các bộ truyện văn học, còn có nhiều sách nước ngoài, sách khoa học kỹ thuật, rồi sách mỹ thuật, sách khảo cứu lịch sử, địa lý… cũ có, mới có, thêm cả một bộ giáo trình của anh nó học trường Y. Nhìn bao quát, cái gác xép này giống như một thư viện mini hay một cửa hàng sách cũ thời nay.

 Tôi với thằng Dương nhanh chóng thân thiết, mớ sách nhà tôi tuy khiêm tốn nhưng cũng có nhiều cuốn nó ưng, nhất là cuốn từ điển Larousse dày cộp có nhiều hình mà ba tôi mang trong Sài gòn ra. Còn tôi thì khỏi nói, mờ mắt vì kho sách nhà nó. Nhiều cuốn mới toanh, rất độc mà tôi không hiểu nó kiếm ở đâu. Hỏi thì nó nói là nhờ mua trên phố. Đúng là gia đình bên mẹ thằng Dương ở phố Mã mây, trong một ngôi nhà mà nó đã chỉ cho tôi thấy trong tranh của Bùi Xuân Phái, nhưng tôi đoán là phải có một nguồn cung cấp chuyên nghiệp nào đó, một cửa hàng sách chẳng hạn. Điều đó thì không dám chắc, nhưng điều chắc chắn là khả năng tài chính của thằng Dương (xét trong mặt bằng của bọn trẻ chúng tôi) là rất xông xênh. Tiền tậu đám sách của nó, dù chỉ tính “giá trong”, cũng không phải là nhỏ.

 Đến đây xin được tạm dừng để nói thêm về thằng Dương. Nó họ Thái, tên đầy đủ là Thái Bình Dương nên hồi đi học hay được các thầy cô gọi đùa là Đại Tây Dương hay Ấn Độ Dương. Trong nhóm thì bọn tôi gọi nó là Dương “ký”, có lẽ vì trông nó giống ông thầy ký. Thằng Dương nhỏ con, da đen, chỉ được cặp mắt sáng, nhìn thẳng. Cấp hai học nó chung với tôi nhưng chưa thân, còn khi vào cấp ba Đống đa thì nó học bên lớp G, còn tôi lớp A. Thằng này họp hành hay phát biểu phê bình bạn bè nên lúc đầu tôi đánh giá nó hơi “bôn sệt” (tức là mô phạm kiểu cán bộ) nên không ưa, nhưng sau thì biết tính nó là vậy.

 Thằng Dương đọc nhiều nên biết rộng, nhớ tốt, nhất là các kiến thức xã hội. Nó chịu khó đọc sách về Công giáo, về đạo Phật, Phân tâm học…cũng chịu khó đi, cứ cuốc bộ lõng thõng từ hiệu sách, sang bảo tàng, vào nhà chùa, ghé triển lãm…Sẵn sàng hỏi han người lạ, không ngại. Có lần nó còn nói chuyện với Tây ở Bờ Hồ, chúng tôi phục lắm, đến lúc Tây đi rồi, hỏi mày nói chuyện gì? thì nó chỉ bảo vắn tắt: đấy là người Pháp, mình chào họ thôi. Thời cấm vận, phân biệt được Pháp với Liên xô là siêu rồi.

 Tuy thế, học chính khóa thì thằng Dương không chú trọng mấy, chỉ làng nhàng. Thi đại học cũng trượt. Đăng ký vào Hàng hải, khoa Vô tuyến, biết khả năng đỗ là rất thấp, nhưng nó vẫn cười khè khè bảo: chỉ thích mỗi chỗ đó.

 Sau nó đi bộ đội ở Cao bằng. Đến lúc tôi ra trường thì nó vào Nam, nhưng ở khá xa, vùng Xuyên mộc, Bình châu, gần suối nước nóng. Vùng này khi đó rất hoang sơ, là bãi tập kết của dân vượt biên. Rồi nó lên SG tìm tôi, bảo là đang trông coi lò sấy chuối cho bà cô, ở giữa rừng chuối, cách lộ mấy cây số, một mẩu báo cũng không có, nói gì đến sách. Nó mượn tôi mớ sách rồi về Bình châu. Mấy tháng sau có người mang sách đến tận nhà trả, nói anh Dương đã ra Bắc. Tôi viết thư hỏi thì nó bảo đang làm cho “Bộ Nặng” (Bộ Công nghiệp nặng) nhưng kêu chán, muốn đi đâu đó.

 Năm 90 tôi ra Bắc học, đến nhà thằng Dương, chờ mãi khuya mới gặp, thấy nó rất oách, quần áo chỉn chu, giầy đen, cặp số và có vẻ bận rộn, “quyết” vấn đề rất nhanh. Nó “quyết” luôn cho tôi cái xe đạp, còn định “quyết” cả tiền nhưng tôi không nhận. Nó “quyết” tôi lên gác xép ngủ cho yên còn nó phải thức làm việc, mai lại đi sớm. Mấy năm mới quay lại, nên dù buồn ngủ tôi vẫn tranh thủ thăm qua đám sách vở ngày xưa. Kho sách của thằng Dương được bổ sung nhiều, đặc biệt là các loại sách ảnh ngoại quốc, sản phẩm của thời mở cửa. Chúng khá bừa bộn chứng tỏ vẫn được chủ nhân chăm sóc chu đáo.

 Gặp nhau được vài lần thì thằng Dương lại quay vào Nam, lần này nó ở Cần thơ. Đến hè tôi về SG, nó lên, bảo là vẫn trông lò sấy chuối ở nông trường Sông hậu, vẫn giữa cánh đồng. Sinh hoạt văn hóa thì chỉ có nhậu. Ăn uống lại thất thường nên dính bệnh gan, phải chữa ở viện 121. Nó lại cười khè khè, bảo cũng ổn rồi, mình sắp thành bác sĩ rồi và cho tôi xem cuốn sách “Tìm hiểu bệnh viên gan B” bìa màu đỏ. Tôi lè lưỡi, ông này đúng là thánh sách.

 Tôi ra Bắc, nó xuống Cần thơ, bẵng đi cả năm. Lúc tôi về HN, đến nhà nó thì cửa khóa, chỉ gặp một ông bạn lạ mặt ngoài sân, khi tôi hỏi thì ông này trợn mắt, chỉ chỉ ngón tay xuống đất bảo: thằng Dương ở đấy, nó ở đấy. Tôi điếng người. Lần sau nữa mới gặp mẹ thằng Dương ở nhà để vào thắp nhang cho nó. Cuối cùng thì nó vẫn mất vì viêm gan và được chôn cất ở quê nội, vùng cát cháy Bình thuận.

 Vậy là mọi sự với thằng Dương đều dang dở, tôi kể lại hơi dài không phải vì nó là bạn thân, mà đó là một câu chuyện rất đời. Cuộc đời không như sách. Nếu thằng Dương còn, có thể vốn hiểu biết của nó sẽ tìm được nơi thi thố. Nhưng cũng có thể nó vẫn cứ lõng thõng xê dịch đó đây. Điều đó không quan trọng, mà quan trọng là thời nào và ở đâu cũng không thiếu những tín đồ chữ nghĩa, những người luôn coi việc lượm lặt tri thức - đơn thuần - chỉ là một niềm vui.

 Trở lại với câu chuyện, ngoài thằng Dương thì tôi có một đứa bạn nhiều sách nữa là thằng Hoa Nam. Thằng này ở tập thể báo Nhân dân, tức là dãy nhà tầng hình chữ U phía ngoài cổng khu Nam đồng. Thằng Hoa Nam là học sinh giỏi văn, giải ba toàn miền Bắc. Sách của nó có chọn lọc, phần lớn là những bộ tuyển tập của các nhà văn nổi tiếng: Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…và nhiều nhà văn nước ngoài. Những bộ tuyển tập được nó giữ cẩn thận trong cái tủ kính đặc biệt, tạo thành từ một khung cửa sổ lớn. Số này tôi chỉ xem tại chỗ, không dám mượn. Đám sách tổng hợp còn lại cũng khá nhiều và có thể mượn được. Nhà thằng Hoa Nam chỉ có hai mẹ con, mẹ nó đi làm suốt ngày, nên bọn tôi ám ở chỗ nó cũng thường xuyên. Ngoài sách, thằng Hoa Nam còn có nhiều đồ lưu niệm và một bộ sưu tập tem gồm ba bốn cuốn album dầy. Trong khi bọn tôi mới tập “chơi” tem bằng cách bóc từng cái trên phong bì và cắt tem in trong họa báo Liên xô thì tem của thằng Hoa Nam đã có từng bộ theo chủ đề đàng hoàng. Nhiều tem nước ngoài rất lạ mà nó đều thuộc vanh vách. Các giá sách ngăn nắp của thằng Hoa Nam khiến tôi rất mê nên về nhà tôi cũng kiếm gỗ tự đóng một cái và xếp sách vở vào. Điều này làm ba má tôi rất phấn khởi. Từ hồi vào cấp ba tôi không gặp thằng Hoa Nam, vừa rồi xem trên mạng mới biết bây giờ nó là nhà báo, làm chức to bên một cơ quan về Thiếu niên, Nhi đồng.

 Những bạn khác thì dù ít, dù nhiều nhưng đứa nào cũng có sách, vì thế tôi đã la cà khắp cả khu tập thể để tìm bạn, tìm sách. Ngoài mấy đứa cùng dãy nhà 7C thì các nơi khác đều có: Nhà 7 có cái Ngọc, thằng Cường “con”, tôi đã nhiều lần bới tung mấy ngăn kéo truyện của chị em nó, nhà 8 có thằng Hoàn, nhà 4 có Thắng “mái” (mới mất), nhà 2 có Ngọc tầng 4, nhà 3 có Ngọc Lâm, Thái Long, nhà 1 có Hồng Sơn… Không thể nhớ hết được vì thời gian đã rất lâu, nhưng có những chuyện đã thành kỷ niệm. Ở nhà 5, tầng hai có cái Thanh, con cô Quế. Cảnh nhà cái Thanh thì ở khu Nam đồng đều biết: bố liệt sĩ, mẹ thì bệnh thần kinh, anh nó thì bị tù vì dính một “trận chiến đường phố” trong đội hình của “lính quân khu”. Nói gọn là nhà nó rất khổ, vậy mà nó rất ham đọc. Tôi không học cùng cái Thanh, cũng không nhớ là quen nó thế nào, chắc cũng từ một cuốn sách nào đó. Cái Thanh không vào nhà tôi, thường thì buổi tối thấy nó thập thò ở gốc cây trước cửa là tôi nhót ra xem cuốn sách nó mang đến, rồi vào lấy sách cho nó mượn. Nó không vào nên tôi mang cả mớ để nó chọn. Có khi tôi sang nó, cũng chỉ đứng dưới sân gọi. Cái Thanh rất thính, nghe thấy ngay và chạy xuống. Một thời gian sau, khi cô Quế phát bệnh, đi “diễn thuyết” lang thang thì không thấy cái Thanh sang nữa. Từ đó tôi cũng không gặp, không biết nó giờ ở đâu.

 Nhờ hoạt động kiểu cộng đồng như thế nên nguồn sách rất phong phú, nhiều chủng loại, và chúng tôi đọc tất. Ngoài truyện tranh, truyện thiếu nhi, chúng tôi đọc cả tiểu thuyết nội ngoại, truyện danh nhân, sách khoa học kỹ thuật, tạp chí các loại, kể cả tài liệu tham khảo của quân đội do “các cụ” mang về. Tôi nhớ là mới lớp ba, lớp bốn gì đó mà tôi đã đọc cả cuốn tiểu thuyết dày “Gia đình Bút-đen-Brúc”, truyện về xã hội châu Âu thời xưa vô cùng rối rắm, đã thế lại không có tập một, chỉ mỗi tập hai, vậy mà tôi cũng xơi hết. Cuốn “Tinh vân tiên nữ” đã nói ở trên là chuyện viễn tưởng về du hành vũ trụ rất trừu tượng, nhưng bọn tôi cũng không ngại, đoạn nào khó hiểu quá thì bỏ qua.

 Một tai nạn ngộ ngĩnh là lần thằng Nam “cộ” cho tôi mượn cuốn “Thú chơi cổ ngoạn” của Vương Hồng Sển. Cuốn này in trong miền Nam từ trước giải phóng, nội dung dài dòng về khảo cứu đồ cổ, nhưng có một số đoạn kể các tích xưa bọn tôi cũng thích. Tôi đang đọc thì ba tôi nhìn thấy, vậy là lớn chuyện. Hồi đó tất cả sách in ở miền Nam trước 75 đều được xếp vào loại văn hoá phẩm độc hại, phải nghiêm cấm. Nguy hiểm hơn, cuốn này lại của tay Hồng Sển họ Vương nào đó, chắc là Tàu rồi. Vậy là mấy cụ họp lại nghiên cứu, có cả bác Huy, bố thằng Hồng “bộc”, là cán bộ chính trị. Rồi các cụ gọi bọn tôi ra phân tích sự độc hại. Thứ nhất, đây là sách nhảm nhí, chỉ nói chuyện ăn chơi vô bổ, không đề cao người lao động. Thứ hai, nó rất phản động, nêu giả thuyết linh tinh về nguồn gốc người Việt, trong khi sự thật sáng ngời không thể chối cãi là người Việt ta dòng dõi con Rồng cháu Tiên. Bọn tôi cũng hoảng và khai ra thằng Nam “cộ”. Sau đó hình như Ba tôi có trao đổi với bố thằng Nam và đi đến nhất trí cao là tịch thu cuốn sách.

 Vài năm sau tôi lại tìm thấy cuốn sách đó do ba tôi cất trong tủ, tôi lôi ra đọc và thấy là trừ những chỗ “phản động” ra thì nó khá hay. Bọn tôi lại chuyền tay nhau, có lần ba tôi cũng thấy nhưng không nói gì nữa.

 Chuyện kể trên hơi buồn cười nhưng nó cho thấy là người lớn cũng rất quan tâm đến việc đọc của bọn tôi. Ngoài mua, các cụ còn cho bọn tôi những cuốn sách được tặng hoặc được cấp phát, số này cũng nhiều, nhất là các cụ làm bên tuyên huấn hay xuất bản. Trong khu tập thể còn có những nhà văn nổi tiếng như Hữu Mai, Hồ Phương...sự hiện diện của các thần tượng càng này cổ cũ cho việc đọc sách của bọn trẻ. Nhiều phụ huynh còn chịu khó mượn sách trong thư viện Quân đội về cho bọn tôi. Ở dãy nhà tôi thì bác Trẻ, bố thằng Thành, là hay mượn nhất, mà toàn mượn sách quý như Tam quốc, Thủy Hử…Sách cứ để đầu tủ, chúng tôi thay nhau đọc, chừng mươi hôm thì bác hỏi: chúng mày đọc hết chưa? Để đổi cuốn khác. Cụ hỏi câu này hơi thừa vì mỗi cuốn chúng tôi xử lý rất nhanh, chỉ trong vòng vài nốt nhạc. Nhiều khi chờ sốt ruột phải nhắc khéo kẻo cụ quên. Bây giờ thì phần lớn trong số các cụ cũng đã đi xa. 

 Có một thời gian trong khu cũng tổ chức thư viện ở Hội trường. Hình thức là mỗi đứa góp ba cuốn, rồi các anh chị phụ trách dùng số sách đó cho mượn, ghi sổ đàng hoàng. Lúc đầu cũng sôi nổi, chúng tôi chen nhau chí chóe, mệt mà vui. Nhưng chẳng biết sao thư viện này không duy trì được. Số sách còn lại được chuyển về một phòng nhỏ đầu nhà trẻ, do các bác hưu trí quản lý, sau rồi mất hẳn.

 Sở thích sách vở vẫn duy trì đều nhưng cũng thay đổi dần khi bọn tôi lớn lên. Vào cấp ba, chúng tôi có dịp làm quen với nhiều “mọt sách” đẳng cấp từ những nơi khác, những câu chuyện sách cũng sâu sắc, thi vị hơn, nhiều khi vượt ra ngoài trang giấy… Rồi đến khi tôi vào Nam, lại có thêm những điều lạ. Nhưng xin để dịp khác, tôi xin phép dừng câu chuyện ở đây. Hiện tại tôi đang làm việc cùng Thư viện của cơ quan, xung quanh là sách và sách. Lắm lúc thấy buồn cười, hồi bé mình cứ hay mơ ước sau này có một nhà đầy sách, bây giờ coi như xong.


Đọc thêm!
Đầu xuân trên bến Nhà rồng 
Quân khu Nam đồng gặp mặt phía nam 
Bạn bè ba bốn chục năm 
Cùng chung vui giữa mênh mông đất trời 
Ban liên lạc rất tuyệt vời 
Trong ngoài chu đáo như nơi gia đình 
Khách mời thì thật chí tình 
Hoa cùng quà cáp thân chinh mang vào 
Bà con ở những phương nào 
Nghe tin họp mặt, xôn xao chúc mừng… 

Kết quả là quá tưng bừng 
Không phụ danh tiếng vang lừng bấy nay 
Rượu bia rót chẳng biết say 
Người không biết mệt đan tay nối vòng 
Hát vang lên tự đáy lòng 
Bao năm ta vẫn cùng trong một nhà…




Đọc thêm!

Thứ Ba, tháng 1 06, 2015

  Năm mới nói chuyện cũ. 
  Hồi Lệ Rơi mới xuất hiện, tiếng tăm nổi như cồn, mình cũng tò mò xem thử một lần rồi thôi, vì thấy không có gì đặc biệt. 
  Nhưng dư luận thì vẫn ồn ào.
  Nhiều người chê là nhảm. Tuy nhiên cần phải thấy là đa số các thứ trên Youtube đều linh tinh, hầm bà lằng. Xét về độ nhảm thì LR chưa phải là đẳng cấp.
   Cũng có người khen LR giỏi. Khả năng có hạn nhưng thủ đoạn rất siêu, tính tổng thể thì xứng đáng là một tài năng lớn. Tuy nhiên ở xứ mình bi giờ, ngành PR đã phổ cập và đã thành công nghệ: công nghệ đánh bóng, công nghệ tạo nổ, công nghệ xì-căng-đan. So với các loại đại bác đang đì đùng khắp nơi thì LR chỉ là pháo tép. Rất khiêm tốn.
   Có người đặt vấn đề nghiêm chỉnh hơn, là đằng sau LR có một thế lực truyền thông nào đó. Nhưng điều này cũng không lạ, đằng sau sự kiện gì mà chẳng có dấu ấn truyền thông. Truyền thông thời nay có thể dựng nên tất tần tật: từ tội đồ tới siêu sao, từ hoa hậu tới chính trị gia…LR chắc chắn là được dựng lên, nhưng chỉ dựng để mua vui, lo nghĩ làm gì cho mệt.
    Thế rồi chuyện LR cũng qua nhanh. Trò tung hứng chỉ có thế.
    Vậy mà vừa rồi LR tự nhiên xuất hiện làm khách mời trên VTV1, gây ngỡ ngàng cho nhiều người.
    Không phải ngỡ ngàng với LR, vì LR mới đó mà đã xưa lắm rồi. Dù VTV có đứng ra tổ chức cho y một đại Gala truyền hình trực tiếp đến hàng ngàn điểm cầu thì cũng chẳng giải quyết vấn đề gì.
    Mà ngỡ ngàng vì cái tầm của VTV.
   Hình: Lệ rơi trên VTV.

Đọc thêm!

Thứ Hai, tháng 12 29, 2014

     Do có trục trặc về giấy tờ nên tôi vào trường nhập học trễ mất ba tuần.
    Lúc này sinh hoạt của học viên mới đã nề nếp, còn tôi lớ ngớ chưa biết gì, cũng chưa quen ai nên không dám hỏi. Buổi trưa đi ăn cơm, người ta xếp hàng hết tôi mới dám ra đứng vào hàng cuối cùng, không biết có đúng lớp của mình không.
    Vào nhà ăn tôi cũng chọn mâm cuối cùng, mâm này không có ghế, phải đứng. Lúc ăn cũng ngại, đến khi anh bạn bên cạnh nhắc, tôi mới gắp hai miếng thịt phần mình. Ngoài hai miếng thịt đó ra thì thức ăn chỉ còn rau muống. Cơm cứng và nhạt, rất khó nuốt.
    Nhưng sau này tôi mới biết mình may, vì nhà bếp bao giờ cũng chia dôi ra mấy suất đề phòng có thêm người. Bữa đó không thêm ai nên mâm cuối mới được hai miếng thịt/người. Các mâm khác thì chỉ một. Mâm cuối thường là nơi nhằm đến của nhiều đàn anh có kinh nghiệm.
     Đầu giờ chiều đang ngủ mê mệt thì có người gọi dậy đi học, chưa biết gì nên tôi lại vào đằng sau, tập bước theo hàng. Được một lúc thì anh lớp trưởng bỗng bắt nhịp“Vừng đông đã hừng sáng...” vậy là tất cả đồng thanh “Vừng đông đã hừng sáng, núi non xanh ngàn trùng xa…”. Bài này tôi cũng biết nên hát dựa theo được, chỉ hơi buồn cười là giữa trưa sao lại hát “Vừng đông…”.
     Sau buổi đầu đó là ba năm học vất vả, chúng tôi còn hát “Vừng đông…” hàng ngàn lần. Sáng “Vừng đông…”, trưa đi học về đói gần chết cũng “Vừng đông…”, mười giờ đêm đi nhận gác cũng “Vừng đông…”. Thực ra còn nhiều bài hát nữa nhưng bài này được chọn nhiều vì nhịp nó dễ, vì anh lớp trưởng “tủ” nhất bài này, nhưng có lẽ quan trọng hơn cả là nó hay:
    “Vừng đông đã hửng sáng, núi non xanh ngàn trùng xa, Tổ quốc bao la hiền hòa. Tươi thắm bóng cờ ,vờn bay trên cao, muôn trái tim này hòa nhịp cùng ngàn lời ca trong sóng lúa, lấp lánh sao bay trên quân kỳ…” Trong bài hát có núi non Tổ quốc, sóng lúa quê hương, có ánh sao bay trên quân kỳ… những hình ảnh gần gũi mà hào hùng.
    Bây giờ thì các bạn cùng lớp ngày đó giờ đều đã qua tuổi 5x, nhiều người đến gần 6x. Số còn tại ngũ, số đã trở về với đời thường từ lâu nhưng nói chung đều đã “Xế chiều”.
    Nhưng dù thế nào vẫn chúc các bạn luôn nhớ về thời “Vừng đông…”, luôn giữ tinh thần “Vừng đông…”, trong mọi thời tiết.                                                                    (Nhân ngày 22/12/2014)
Đọc thêm!
     Ngày nghỉ mà cứ thấy thiếu thiếu, một lúc mới nghĩ ra là vì không có cái thiệp mời nào.
       Suốt mấy tuần rồi, thứ bảy chủ nhật nào cũng vạ vật ở các đám cưới. Vạ vật vì phải chờ đợi thôi, chứ còn các thứ khác thì đã ở tầm “công nghệ” - cực kỳ chu đáo và hoành tráng.
      Hình như khắp cả nước, có khi cả thế giới, thì chỉ có đám cưới ở SG mới cho khách dùng món kẹo cao-su khai vị. Với kinh nghiệm ba chục năm đi ăn cưới (kể cả đám của bản thân) nên thường mình chỉ đến trước giờ khai tiệc chừng mươi phút, vậy mà lần nào cũng phải chờ, ít nhất là ba mươi phút, còn nhiều thì gấp bốn bằng ấy.         Cũng không rõ tại sao lại thế, nhưng sự chờ đợi đã thành lệ, thành văn hóa! Nấn ná đợi nhau cũng mệt thật, nhưng đến lúc đông đủ, cùng hô Zô! một tiếng vang trần (nhà) để chúc mừng đôi bạn, thì thấy cũng khí thế hơn nhiều nơi khác.
      Nhưng giá đừng cho món cao-su nhiều quá thì vẫn hơn. Có món đó nên hôm nào đính đám cưới là coi như hết ngày.
     Tuần này rỗi, có thời gian ngó xung quanh, mới thấy đất trời đang lệch pha với con người. Trong lúc hầu hết bà con đang bù đầu với đủ thứ việc cuối năm, kể cả cưới hỏi, hội hè như kể trên, thì thời tiết SG lại hết sức thong thả.
     Thong thả nắng, thong thả gió, cơn bão số 5 cũng thong thả lượn ngoài biển rồi tan. Đôi lúc lại thong thả mưa. Nhờ thế mà mọi sự cũng thong thả theo, nước thong thả ngập, đường thong thả kẹt…chỉ có sự bận rộn là không thèm thong thả.
     Những ngày đẹp trời đến không đúng lúc, cũng như người đẹp đến không đúng lúc, thích lắm, mà không biết làm sao. Chán thật.
Đọc thêm!

Thứ Tư, tháng 11 19, 2014

   Ra trường ba tháng, mình đã được đi dạy.
   Chẳng phải tài giỏi gì mà do thiếu giáo viên. Bộ môn có ba người thì một đi học, một đi phép dài hạn để chuẩn bị chuyển vùng. Còn mỗi mình rỗi nên Trưởng Khoa gọi sang hỏi: có dạy được không? Mình trả lời là được. 
   Sở dĩ mình dám nhận vì đã biết cái lớp đó. Hồi mình còn học viên, lớp đó ở dãy nhà đối diện, chung sân với lớp mình. Ra vào giáp mặt, cả năm trời. Tuy nhiên chỉ biết thôi chứ không quan hệ gì, vì đây là những người Cam-pu-chia, theo cách gọi chính thức là học viên Quốc tế. Họ có chế độ học tập, sinh hoạt riêng.
    Những buổi lên lớp đầu tiên cũng thuận lợi, học trò tuy biết mình mới toe nhưng cũng không ý kiến gì, có khi họ lại khoái, không sợ thầy phạt. Lớp có chín người, thì chỉ có tay lớp trưởng là rành tiếng Việt, hát cải lương được, còn lại thì bập bõm. Lúc đầu mình cũng y xì sách, nói một hồi, lúc quay xuống vẫn thấy cả lớp vẫn đồng loạt để giấy trắng, chưa viết được chữ nào. Sau thì đổi kiểu, học đến cái gì thì vác luôn nó ra, cho các trò thấy tận mắt, còn lý thuyết thì vừa nói vừa viết vẽ lên bảng. Hồi đó chưa có máy chiếu nên toàn chép tay, buổi nào cũng hết vài viên phấn.
   Dạy trực quan vậy có hiệu quả, nhưng khi hỏi bài thì các trò toàn giả nhời bằng bản ngữ (tiếng Khơ me), ông nào cũng hề hề: Hươu (hiểu) thì hươu nhưng không biết nói. Các ông ra đường tán gái như vẹt nhưng từ ngữ chuyên môn thì nhất định điếc. Mỗi lần kiểm tra là thầy trò toát mồ hôi để tìm tiếng nói chung, kết quả bất ngờ là trình tiếng Khơ me của thầy lại tiến bộ nhanh hơn trình tiếng Việt của trò. Sau này, qua vài khóa, mình đã có vốn từ chuyên môn “Cam ngữ” kha khá, nay không dùng nên quên hết.
   Đánh vật với nhau mấy tháng rồi mấy môn mình dạy cho lớp đó cũng ổn, thầy trò thân nhau hơn. Nhưng từ đó đến nay cũng chưa gặp lại “em” nào. Chữ em để trong ngoặc vì cả lớp đều hơn tuổi mình, từng là sĩ quan, lính chiến cả, tay nhiều tuổi nhất tên là Nhức-Hum đã có vợ, bốn con. Các “em” ra trường vào thời điểm đó, nếu còn trong quân đội chắc đã lên tá, lên tướng cả (ở bên đó cấp tướng xông xênh hơn mình nhiều, riêng đại tướng đã có đôi, ba trăm).
   Rồi nữa, không biết công việc thế nào, nếu có sang VN mời Hai Lúa về làm tàu bay, tàu bò thì ghé thăm thầy. Nói thật, riêng đoạn đối xử với Hai Lúa được như thế, thầy phục lắm. 
                         (Giáo viên Quốc tế BT, viết nhân ngày 20/11).


Đọc thêm!

Thứ Sáu, tháng 11 14, 2014

Em ơi phố biển mùa này
Khách ta thì ít, khách tây thì nhiều
Hàng quán đã bớt dập dìu
Hàng dừa đôi lúc lại hiu hiu buồn
Một mình anh đứng bồn chồn
Trông ra chỉ thấy những hòn nhấp nhô… 
                                Nha trang 10.14

Đọc thêm!

Thứ Năm, tháng 11 13, 2014

    Thời bao cấp nhà mình có hai xe đạp. Xét về số lượng là nhiều. Còn chất lượng thì nói sau.
    Tuy nhiên hai con xe đó là của các cụ đi làm, chỉ thi thoảng mình mới có dịp cưỡi.
   Đến lúc vào lớp tám thì cụ ông đi Cam-pu-chia, nên tự nhiên mình được tiếp quản con xe của cụ. Rất sướng.
   Đó là con xe Thống nhất nam, sản phẩm nổi tiếng của nền kỹ nghệ miền Bắc thời ấy.
    Nhưng xe Thống nhất cũng mấy loại. Loại một có nhiều phụ tùng ngoại, đặc biệt là các cụm chuyển động như moay-ơ, xích, líp, nồi trục giữa…loại hai, loại ba thì kém hơn. Con xe nhà mình chắc thuộc loại bét nên gần như nội địa 100%.
   Nó cũng đã cũ nên nhiều bệnh lắm. Mình hăng hái đạp đi học được vài bữa rồi thôi. Cưỡi nó giải quyết được mỗi khâu oai, mà lắm phiền toái. Xẹp lốp là chuyện thường, vừa đi vừa rải ốc vít là chuyện nhỏ, phanh thắng không ăn là chuyện đương nhiên. Mệt nhất là bộ xích líp, đi một chốc lại phải xuống sửa, tay chân mặt mũi dính dầu đen sì như thằng hề. Đĩa, líp đã mòn gần hết răng nên đạp mạnh cũng tuột, đạp nhẹ cũng tuột, đạp không cân hai bên cũng tuột, thậm chí không đạp mà xe xóc cũng vẫn tuột. Tuột nhiều đến nỗi mình luyện được độc chiêu, đang đi mà thấy sượng sượng dưới chân là biết, khẽ đạp trở ngược một tý là cặp đôi lại hoàn hảo, xích lại vào với líp.
    Nhưng tuột xích không ngại bằng việc lâu lâu nó lại nhai gấu quần, tức là cuốn xừ gấu quần vào răng đĩa. Trường hợp này nặng thì ngã ngay và luôn, nhẹ thì gỡ được, nhưng cũng xong cái quần dài. Các bà các chị hay dùng kẹp để túm gọn ống quần, nhưng mình thì không làm thế được, còn đếch gì là chuẩn men.
   Con xe xếp xó cả năm, cho đến khi thầy dạy thêm môn toán đến nhà thấy tiếc mới bày cho mình sửa. Theo chỉ dẫn của thầy, mình xin tiền các cụ rồi cùng mấy ông bạn lần lượt thực hiện. Khó nhất là bộ đĩa và líp thì đã có cách là mang lên phố hàn đắp rồi đột lại răng. Sợi xích cũng được tháo ra “lộn” lại, tức là lật ngược từng mắt xích để tận dụng phía chưa mòn.
    Hai vành xe đã mục phải bỏ thì dùng vành xe Liên xô cỡ 680 rồi cắt bớt, uốn lại đúng cỡ 650. Lốp xe cũng dùng lốp 680 cắt bớt rồi nối. Các ổ trục cũng hàn đắp rồi tiện lại, chỉ thay một số viên bi. Các chỗ khác cũng chắp nối tương tự như vậy, một số bộ phận “thừa” như phanh trước, booc-ba-ga…thì bỏ luôn.
     Cuối cùng thì con xe lại chạy vè vè, phục vụ mình hết cấp ba, kể cả hai chuyến đi chơi xa với lớp tận Sóc sơn, Đại lải. Nhưng quan trọng hơn là qua đợt phục chế nó trình độ xe đạp của mình được củng cố, làm cơ sở để mình tiếp tục học hỏi thêm nhiều kỹ thuật đẳng cấp. Ví dụ mình có thể làm măng-sông nối ba, bốn đoạn săm thành một cái săm hoàn chỉnh hay lồng hai cái lốp rách thành một cái lốp vẫn rách nhưng đi được. Sau này vào miền Nam mình có thể tự mua đồ dựng cả con xe mới trong đôi ba ngày (lưu ý là xe dựng hồi đó thường hợp chủng quốc với phụ tùng từ khắp thế giới, nguyên việc nhớ các món nào ráp được với nhau cũng đủ mệt).
    Bây giờ thì “đã xa lắm rồi, xe đạp ơi...”. Nghề tay trái của mình đã mai một, kỷ niệm về những con xe cũng xa theo.
    Nhân có thầy giáo ở Hà tĩnh khảo sát rồi công bố: học sinh bây giờ không biết xích, líp, không biết sửa xe đạp…lại nhớ chuyện ngày xưa. Không biết thầy khảo sát làm gì, rồi báo chí loan tin thế nào, để đây đó ồn ào về vấn đề kỹ năng sống của giới trẻ. Nghe hơi buồn cười, kỹ năng tùy thuộc hoàn cảnh. Thời này sao còn lấy chuẩn đo lớp trẻ bằng con “xế điếc”.
     Như bố chúng nó, ba bốn chục năm trước.

Đọc thêm!

Thứ Ba, tháng 11 11, 2014

    Dạo này nhà mình có nuôi hai bạn cóc.
    Đúng ra là hai bạn tự đến. Buổi tối cách nay khá lâu, một bạn, khi đó chỉ bằng ngón tay cái, nhảy lóc cóc từ cổng vào. 
    Lập tức bạn mèo xồ ra chộp, vật qua vật lại. Bạn cóc nằm quay lơ. Mình thấy tội nên xách cẳng thả ra đường. 
    Bữa sau lại thấy bạn cóc lò dò vào, bạn mèo lại xồ ra, sự việc lại giống như hôm trước.
    Vậy mà bạn cóc vẫn hay vào, nhiều lúc không gặp mèo nhưng người nhà qua lại cũng tiện chân gạt bạn cóc ra cổng cho khỏi vướng.
    Lâu lâu không còn để ý, chợt một hôm lại thấy bạn cóc. Không phải một mà là tận hai bạn, đang chơi với mèo. Bạn mèo nằm khều khều còn hai bạn cóc thì nhảy vòng quanh, rất vui vẻ (là mình đoán vậy, chứ bố ai biết sự vui buồn của loài cóc).
   Từ đó hai bạn cóc chính thức định cư ở đống gạch vỡ góc sân. Lúc đầu còn e lệ thập thò, sau thì tỉnh bơ. Xơi cơm, xơi nước chung với bạn mèo, no nê rồi ngồi sưởi nắng hay dẫn nhau dạo khắp xó xỉnh, tự nhiên có quyền lợi như những thú cưng thứ thiệt.
   Hai bạn cóc này chắc là một cặp, ít nhất thì cũng đồng tính (là mình đoán vậy, chứ bố ai biết giới tính các vị), vì lúc nào cũng cặp kè. Thường hai bạn hay ngồi trầm ngâm như hai cục đất nhưng lắm lúc phởn lên cũng bày trò đánh vật rồi đuổi nhau y như mấy bé teen teen (cũng là mình cũng đoán vậy, chứ bố ai biết tuổi các cụ cóc).      Có các bạn đâm quen, nhiều lúc đi làm về không thấy hai bạn ngồi chầu cũng thấy thiếu. Lắm lúc mệt vì công việc hay những chuyện vớ vẩn ngoài xã hội, ra ngó hai bạn cóc, lại bật cười, nhớ câu đúc kết dân gian: ôi giời, đời là cóc gì.



Đọc thêm!

Thứ Năm, tháng 10 30, 2014

  Đường Phạm Văn Đồng đã mở thông tới Gò dưa, sáng chạy xe máy một mạch lên chợ Thủ đức mất chưa tới mười lăm phút. Nhanh bất ngờ. 
  Đi ve ve trên đại lộ mới, nhìn sang lão lộ Kha Vạn Cân nhỏ bé, thấy ngậm ngùi thương cho lão. Mới hôm qua thôi, lão còn gồng mình chở hàng núi người và xe cộ ra vô thành phố. 
   Dân SG nghe đến tên lão là sợ phát khiếp. Lão có chiêu liên hoàn thủy công vào những giờ cao điểm. Trước hết là kẹt chặt hai đầu đường cho các loại phương tiện tham gia giao thông đứng yên tại chỗ, tiếp theo là dâng nước triều cường, tiếp nữa là mưa và cuối cùng là xe lửa chạy qua làm sóng nhân tạo. Đảm bảo không ướt như chuột không phải là Kha Vạn Cân. 
   Nhưng trừ những lúc đó ra thì lão cũng dễ thương, nhất là mấy chục năm trước, khi lão còn trẻ, còn là một con đường ngoại ô thong thả, rợp bóng dừa. Lão cặp kè chạy song song với đường sắt, đại diện cho thành phố đón người về và tiễn người đi. Nhìn qua cửa tàu thấy đèn đường Kha Vạn Cân tự nhiên xúc động.
   Rồi thì đô thị hóa bùng nổ, lão trở thành con đường huyết mạch, đông lên từng ngày. Bộ mặt lão cũng thay đổi từng ngày, lão được người ta nâng cấp nhiều lần nhưng vẫn không kịp với lượng người đi qua. Lão trở nên nổi tiếng cả về tầm quan trọng và sự phiền toái.    Bây giờ thì lão đã hết thời. Người ta sẽ sửa chữa để lão trở về làm một con đường cấp phường, cấp quận. Lại thanh bình như xưa.        Không biết là lão buồn hay vui.

Đọc thêm!